Home » Cước thư Đông Dương giai đoạn 2/9/1921-31/12/1924

Cước thư Đông Dương giai đoạn 2/9/1921-31/12/1924

by Luu Van Luong
206 views 4 minutes read

Ở bài viết trước, chúng ta đã biết cuối năm 1918, đầu 1919, chính quyền Đông Dương đã thay đổi giá mặt trên tem bưu chính bằng cách cho in đè lại giá tiền để tận dụng lượng tem đã phát hành trước đó mà chưa sử dụng hết. Tới năm 1922, để đáp ứng nhu cầu gửi thư ngày càng gia tăng, một bộ tem theo giá mặt mới được phát hành, tuy nhiên đồng tiền để thanh toán vẫn duy trì chế độ song song là cent Đông Dương và centime Pháp.

BẢNG 1: YẾT GIÁ TEM THEO ĐỒNG CENTIME/FRANCS PHÁP VÀ CENT/PIASTRES ĐÔNG DƯƠNG (1921-1924)

Francs (Fr)0.020.040.050.100.150.200.300.400.500.601.002.005.0010.0
Piastres ($)0.0040.0080.010.020.030.040.060.080.100.120.200.41.002.00

Tỷ giá quy đổi 1 Cents Đông Dương = 5 Centimes Pháp

SERIES TEM THEO GIÁ MẶT MỚI ĐƯỢC PHÁT HÀNH ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẦU GỬI THƯ

1/5 cent

2/5 cent

4/5 cent

3 cent

Những mẫu in đè vẫn được sử dụng để thanh toán cước bưu chính sau khi series tem giá mặt mới phát hành. Tuy nhiên, giá mặt chỉ còn một nửa bởi tỷ giá giữa Piastre và Franc kể từ 1921 tăng lên gấp đôi, giờ 1 cent Đông Dương đổi 5 centime Pháp.

BẢNG 2: CƯỚC THƯ GIAI ĐOẠN 1921-1924

Quy cách trọng lượng thưIndochine & Quảng Châu
Franc | Piastres
Pháp, thuộc địa, lãnh địa Pháp tại Trung Quốc
Franc | Piastres
– Trọng lượng < 20 grams20 centimes | 04 cents25 centimes | 05 cents
– Từ 20-50 grams40 centimes | 08 cents40 centimes | 08 cents
– Từ 50-100 grams50 centimes | 10 cents50 centimes | 10 cents
– Mỗi 100 grams tăng thêm15 centimes | 03 cents15 centimes | 03 cents

Từ năm 1921 đến 1924, cước thư gửi trong nước không thay đổi và giữ nguyên ở mức 4 cents Đông Dương (tương đương 20c Pháp) đối với thư trọng lượng dưới 20 grams. Tuy nhiên, do đồng Franc bị mất giá, tỷ giá mới là 1 cent = 5 centimes nên để đủ cước thư 4 cents cần dán đủ tem có giá mặt là 4 x 5 = 20 centimes. Nếu như áp dụng tỷ giá cũ 1 cent Đông Dương = 2,5 centimes Pháp thì chỉ cần dán lượng tem giá mặt 4 x 2,5 = 10 centimes là đủ. Như vậy, vấn đề ở đây là tỷ giá đã ảnh hưởng tới cước thư là chủ yếu, sự thay đổi trong cước thư là không đáng kể.

Thư gửi từ Đồng Đăng tới Lạng Sơn có mức cước 4 cents Đông Dương, tương đương với 20c tiền Pháp. Bì thư sử dụng tem in đè “Mongtseu” là tem in dành riêng cho vùng lãnh địa của Pháp tại Trung Quốc. Thời kỳ này, tem của Đông Dương và các vùng tô giới của Trung Quốc bao gồm Quảng Châu có thể dùng chung tem với nhau

Trong khi cước nội địa giữ nguyên thì phí bảo đảm giảm từ 10 cents xuống còn 7 cents. Tuy vậy, nếu quy đổi sang tiền Pháp thì 10 cents trước đây tương đương với 25c Pháp, nhưng bây giờ dù điều chỉnh xuống 7 cents nhưng tương đương với 35c Pháp.

Bì thư gửi từ Hội An (FaiFo) tới Hà Nội năm 1923 có mức cước là 11 cents trong đó cước thư thường là 4 cents, phí bảo đảm là 7 cents, được dán bởi 11 tem cô Ba giá mặt 1 cent

Cước thư thường gửi đi Pháp điều chỉnh giảm từ 6 cents xuống còn 5 cents Đông Dương. Tuy nhiên, nếu quy đổi sang tiền Franc thì 6 cents Đông Dương trước đây tương đương với 15c Pháp, còn 5 cents hiện tại tương đương với 20c do tỷ giá thay đổi.

BẢNG 3: CƯỚC THƯ BẢO ĐẢM GIAI ĐOẠN 1921-1924

Trọng lượng thưGửi tới Pháp & các thuộc địaPhí bảo đảmTổng cộng
– Trọng lượng < 20 grams25 centimes | 05 cents35 centimes | 07 cents60 centimes | 12 cents
– Từ 20-50 grams40 centimes | 08 cents35 centimes | 07 cents75 centimes | 15 cents
– Từ 50-100 grams50 centimes | 10 cents35 centimes | 07 cents85 centimes | 17 cents
– Mỗi 100 grams tăng thêm15 centimes | 03 cents35 centimes | 07 cents100 centimes | 20 cents
Gửi từ Sài Gòn đi Paris 21/6/1923, cước thư thường 20-50g: 8 cents, phí bảo đảm: 7 cents. Tổng cộng: 15 cents

BẢNG 4: CƯỚC THƯ QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 1921-1924

Trọng lượng thưGửi đi các nước UPUPhí bảo đảmTổng cộng
– Trọng lượng < 20 grams25 centimes | 05 cents25 centimes | 05 cents50 centimes | 10 cents
– Mỗi 20 grams tiếp theo15 centimes | 03 cents(không tăng theo trọng lượng thư)

Bài viết cùng chuyên mục

Để lại comment của bạn ở đây